thanh lap cong ty tnhh 2 thanh vien
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.

Hướng dẫn thành lập Công ty TNHH có hai thành viên trở lên

thanh lap cong ty tnhh 2 thanh vien
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
Đọc thêm..
1. Thông báo
Kể từ ngày 13/07/2009, khi được cấp Giấy Chứng nhận ĐKKD thì mặc nhiên Công ty bạn đã được cấp Mã số thuế. Tuy nhiên, để có thể đăng ký kê khai thuế tại Chi Cục thuế cấp quận, bạn phải chờ Cục Thuế gởi Phiếu Chuyển (qua đường Bưu điện) đến địa chỉ mà bạn đăng ký làm trụ sở. Sau 10 ngày kể từ ngày nhận được Giấy CN ĐKKD, nếu vẫn chưa nhận được Phiếu chuyển, bạn nên liên hệ trực tiếp Phòng kê khai kế toán thuế tại Cục Thuế để được giải quyết. Đừng liên hệ sớm hơn thời hạn nêu trên nếu bạn không muốn đi lại nhiều lần. Nhưng cũng đừng trễ hơn vì như thế khi trễ hạn Doanh nghiệp sẽ bị phạt.
2. Lựa chọn loại hình doanh nghiệp
Đối với nhiều người đang có ý định thành lập một Công ty thì việc lựa chọn loại hình Công ty là TNHH 1 thành viên hay 2 thành viên trở lên, hoặc Công ty cổ phần, hoặc Công ty hợp danh… vẫn luôn là câu hỏi. Có thể cho rằng việc chọn loại hình Công ty giống như việc chọn một chiếc áo phù hợp với kích cỡ của mỗi người. Chúng tôi xin gởi đến quý bạn đọc một vài nhận định về mỗi loại hình Công ty với mong muốn đồng hành cùng các bạn trong việc lựa chọn hình thức kinh doanh có hiệu quả
LOẠI HÌNH
ƯU ĐIỂM
HẠN CHẾ
Doanh nghiệp Tư nhânMột chủ đầu tư, thuận lợi trong việc quyết định các vấn đề của Doanh nghiệpKhông có tư cách pháp nhân
Chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản của Chủ Doanh nghiệp
Công ty TNHHNhiều thành viên cùng tham gia góp vốn, cùng kinh doanh
Có tư cách pháp nhân
Chịu trách nhiệm hữu hạn về tài sản theo tỉ lệ vốn góp
Khả năng huy động vốn từ công chúng bằng hình thức đầu tư trực tiếp không có
Công ty Cổ phầnNhiều thành viên cùng tham gia góp vốn, cùng kinh doanh
Có tư cách pháp nhân
Chịu trách nhiệm hữu hạn về tài sản theo tỉ lệ vốn góp
Các cổ đông sáng lập có thể mất quyền kiểm soát Công ty
Khả năng huy động vốn từ công chúng bằng hình thức đầu tư trực tiếp thuận lợi, công chúng có thể dễ dàng tham gia vào công ty bằng hình thức mua cổ phiếu của Công ty (tính chất mở của Công ty)
Công ty Hợp danhNhiều thành viên cùng tham gia góp vốn, cùng kinh doanh
Các thành viên hợp danh có thể hoạt động nhân danh công ty
Công ty hoạt động dựa trên uy tín của các thành viên
Các thành viên cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản liên quan đến các hoạt động của Công ty.
Không có tư cách pháp nhân
- Việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là:
+ uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng
+ khả năng huy động vốn
+ rủi ro đầu tư
+ tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp
+ tổ chức quản lý doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Luật về tổ chức và thành lập doanh nghiệp ở Việt nam hiện có Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, luật Hợp tác xã, luật Các tổ chức tín dụng, luật Đầu tư nước ngoài. Theo đó, Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp.
Vì vậy việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: (i) uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; (ii) khả năng huy động vốn; (iii) rủi ro đầu tư; (iv) tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; (v) tổ chức quản lý doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân 
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.
Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của chủ doanh tư nhân cao, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp.
Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
- Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn;
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty
- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
- Công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân và không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn.
Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty; không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.
Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh. Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau. Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao.
Loại hình công ty hợp danh mới chỉ được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 2000 nên trên thực tế loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên 
C
ông ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc. Công ty trách nhiệm hữu hạn có trên mười một thành viên phải có Ban kiểm soát.
Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt nam hiện nay. Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn đem lại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế như:
-          Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn;
-           Số lượng thành viên công ty trách nhiệm không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp;
-          Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty. Tuy nhiên, hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có những hạn chế nhất định như:
-          Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng;
-          Công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh;
-          Việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một hình thức đặc biệt của công ty trách nhiệm hữu hạn. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu.
Chủ sở hữu công ty không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ số vốn đã góp vào công ty. Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn cho tổ chức hoặc cá nhân khác. Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận của công ty khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả.
Tùy thuộc quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc.
Nhìn chung, công ty trách nhiệm hữu hạn có đầy đủ các đặc thù của công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên. Điểm khác biệt duy nhất giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất và thành viên nàyphải là một tổ chức có tư cách pháp nhân.
Lợi thế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty. Tuy nhiên, loại hình công ty này cũng có hạn chế là các cá nhân không được phép thành lập loại hình công ty này, chỉ có một số chủ thể có tư cách pháp nhân như các tổ chức chính trị xã hội, công ty cổ phần, công ty nhà nước… mới được thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
-          Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
-          Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
-          Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết;
-          Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát.
Lợi thế của công ty cổ phần là:
- Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao;
- Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lịch vực, ngành nghề;
- Cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty;
- Khả năng huy động vốn của công ty cổ phầnrất cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần;
- Việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần.
Bên cạnh những lợi thế nêu trên, loại hình công ty cổ phần cũng có những hạn chế nhất định như:
-          Việc quản lý và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích;
-          Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán.
Công ty nhà nước
Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà Nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước.
Công ty nhà nước được thành lập chủ yếu ở những ngành, lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội; ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn; ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao; hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư.
Người có thẩm quyền ra quyết định thành lập mới công ty nhà nước là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Riêng đối với việc quyết định thành lập mới công ty nhà nước đặc biệt quan trọng, chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt, làm nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.
Công ty nhà nước có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty mới được tiếp nhận vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn để đầu tư, xây dựng doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh; công ty được kinh doanh những ngành, nghề có điều kiện khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh ngành, nghề có điều kiện hoặc có đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Công ty nhà nước được tổ chức quản lý theo mô hình có hoặc không có Hội đồng quản trị. Các tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập sau đây có Hội đồng quản trị:
-          Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập;
-          Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước;
-          Công ty nhà nước độc lập có quy mô vốn lớn giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác.

Những điều cần biết trước khi thành lập doanh nghiệp

1. Thông báo
Kể từ ngày 13/07/2009, khi được cấp Giấy Chứng nhận ĐKKD thì mặc nhiên Công ty bạn đã được cấp Mã số thuế. Tuy nhiên, để có thể đăng ký kê khai thuế tại Chi Cục thuế cấp quận, bạn phải chờ Cục Thuế gởi Phiếu Chuyển (qua đường Bưu điện) đến địa chỉ mà bạn đăng ký làm trụ sở. Sau 10 ngày kể từ ngày nhận được Giấy CN ĐKKD, nếu vẫn chưa nhận được Phiếu chuyển, bạn nên liên hệ trực tiếp Phòng kê khai kế toán thuế tại Cục Thuế để được giải quyết. Đừng liên hệ sớm hơn thời hạn nêu trên nếu bạn không muốn đi lại nhiều lần. Nhưng cũng đừng trễ hơn vì như thế khi trễ hạn Doanh nghiệp sẽ bị phạt.
2. Lựa chọn loại hình doanh nghiệp
Đối với nhiều người đang có ý định thành lập một Công ty thì việc lựa chọn loại hình Công ty là TNHH 1 thành viên hay 2 thành viên trở lên, hoặc Công ty cổ phần, hoặc Công ty hợp danh… vẫn luôn là câu hỏi. Có thể cho rằng việc chọn loại hình Công ty giống như việc chọn một chiếc áo phù hợp với kích cỡ của mỗi người. Chúng tôi xin gởi đến quý bạn đọc một vài nhận định về mỗi loại hình Công ty với mong muốn đồng hành cùng các bạn trong việc lựa chọn hình thức kinh doanh có hiệu quả
LOẠI HÌNH
ƯU ĐIỂM
HẠN CHẾ
Doanh nghiệp Tư nhânMột chủ đầu tư, thuận lợi trong việc quyết định các vấn đề của Doanh nghiệpKhông có tư cách pháp nhân
Chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản của Chủ Doanh nghiệp
Công ty TNHHNhiều thành viên cùng tham gia góp vốn, cùng kinh doanh
Có tư cách pháp nhân
Chịu trách nhiệm hữu hạn về tài sản theo tỉ lệ vốn góp
Khả năng huy động vốn từ công chúng bằng hình thức đầu tư trực tiếp không có
Công ty Cổ phầnNhiều thành viên cùng tham gia góp vốn, cùng kinh doanh
Có tư cách pháp nhân
Chịu trách nhiệm hữu hạn về tài sản theo tỉ lệ vốn góp
Các cổ đông sáng lập có thể mất quyền kiểm soát Công ty
Khả năng huy động vốn từ công chúng bằng hình thức đầu tư trực tiếp thuận lợi, công chúng có thể dễ dàng tham gia vào công ty bằng hình thức mua cổ phiếu của Công ty (tính chất mở của Công ty)
Công ty Hợp danhNhiều thành viên cùng tham gia góp vốn, cùng kinh doanh
Các thành viên hợp danh có thể hoạt động nhân danh công ty
Công ty hoạt động dựa trên uy tín của các thành viên
Các thành viên cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản liên quan đến các hoạt động của Công ty.
Không có tư cách pháp nhân
- Việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là:
+ uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng
+ khả năng huy động vốn
+ rủi ro đầu tư
+ tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp
+ tổ chức quản lý doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Luật về tổ chức và thành lập doanh nghiệp ở Việt nam hiện có Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, luật Hợp tác xã, luật Các tổ chức tín dụng, luật Đầu tư nước ngoài. Theo đó, Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp.
Vì vậy việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: (i) uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; (ii) khả năng huy động vốn; (iii) rủi ro đầu tư; (iv) tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; (v) tổ chức quản lý doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân 
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.
Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của chủ doanh tư nhân cao, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp.
Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
- Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn;
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty
- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
- Công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân và không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn.
Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty; không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.
Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh. Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau. Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao.
Loại hình công ty hợp danh mới chỉ được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 2000 nên trên thực tế loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên 
C
ông ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc. Công ty trách nhiệm hữu hạn có trên mười một thành viên phải có Ban kiểm soát.
Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt nam hiện nay. Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn đem lại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế như:
-          Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn;
-           Số lượng thành viên công ty trách nhiệm không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp;
-          Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty. Tuy nhiên, hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có những hạn chế nhất định như:
-          Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng;
-          Công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh;
-          Việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một hình thức đặc biệt của công ty trách nhiệm hữu hạn. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu.
Chủ sở hữu công ty không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ số vốn đã góp vào công ty. Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn cho tổ chức hoặc cá nhân khác. Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận của công ty khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả.
Tùy thuộc quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc.
Nhìn chung, công ty trách nhiệm hữu hạn có đầy đủ các đặc thù của công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên. Điểm khác biệt duy nhất giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất và thành viên nàyphải là một tổ chức có tư cách pháp nhân.
Lợi thế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty. Tuy nhiên, loại hình công ty này cũng có hạn chế là các cá nhân không được phép thành lập loại hình công ty này, chỉ có một số chủ thể có tư cách pháp nhân như các tổ chức chính trị xã hội, công ty cổ phần, công ty nhà nước… mới được thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
-          Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
-          Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
-          Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết;
-          Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát.
Lợi thế của công ty cổ phần là:
- Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao;
- Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lịch vực, ngành nghề;
- Cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty;
- Khả năng huy động vốn của công ty cổ phầnrất cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần;
- Việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần.
Bên cạnh những lợi thế nêu trên, loại hình công ty cổ phần cũng có những hạn chế nhất định như:
-          Việc quản lý và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích;
-          Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán.
Công ty nhà nước
Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà Nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước.
Công ty nhà nước được thành lập chủ yếu ở những ngành, lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội; ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn; ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao; hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư.
Người có thẩm quyền ra quyết định thành lập mới công ty nhà nước là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Riêng đối với việc quyết định thành lập mới công ty nhà nước đặc biệt quan trọng, chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt, làm nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.
Công ty nhà nước có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty mới được tiếp nhận vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn để đầu tư, xây dựng doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh; công ty được kinh doanh những ngành, nghề có điều kiện khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh ngành, nghề có điều kiện hoặc có đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Công ty nhà nước được tổ chức quản lý theo mô hình có hoặc không có Hội đồng quản trị. Các tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập sau đây có Hội đồng quản trị:
-          Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập;
-          Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước;
-          Công ty nhà nước độc lập có quy mô vốn lớn giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác.
Đọc thêm..
Xếp đầu bảng xếp hạng về nộp thuế vẫn là các doanh nghiệp nhà nước
Tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp (DN) của 1000 DN trong bảng xếp hạng V1000 năm 2013 là khoảng 77 nghìn tỷ đồng, trong đó DNNN chiếm tới 52,6%.
Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) và Tạp chí Thuế – Tổng cục Thuế vừa chính thức công bố Bảng Xếp hạng 1000 DN nộp thuế thu nhập DN lớn nhất Việt Nam năm 2013 (BXH V1000) nhằm biểu dương, tôn vinh và khuyến khích các DN có mức nộp thuế thu nhập DN cao.
Xếp đầu bảng xếp hạng về nộp thuế vẫn là các doanh nghiệp nhà nước
Theo đánh giá của BXH, tình hình kinh doanh đã khởi sắc hơn, đồng thời ý thức về nghĩa vụ nộp thuế của các DN ít nhiều được cải thiện. Tổng số thuế thu nhập DN của BXH V1000 năm 2013 là khoảng 77 nghìn tỷ đồng.
Các DNNN vẫn đang thể hiện tốt vai trò quan trọng của nền kinh tế trong việc đóng góp thuế thu nhập DN vào ngân sách quốc gia, chiếm tới 52,6% tổng số thuế của bảng xếp hạng V1000. Trong số 100 gương mặt điển hình năm nay có tới 42% là DNNN, đóng góp 64,5% tổng số thuế của Top 100. Điều đó chứng tỏ lợi nhuận kinh doanh của nhóm DNNN ở mức cao và hiệu quả hoạt động được cải thiện rõ rệt.
Khối DN tư nhân chiếm tới hơn 50% số DN mới xuất hiện trong bảng V1000 năm trước, thì con số tương tự của năm nay chỉ là 37%. Đây là một bước thụt lùi lớn. Bên cạnh đó, trong tổng số thuế mà 1000 DN thuộc BXH đã nộp, số thuế của nhóm DN tư nhân chỉ chiếm 23,4%, thấp hơn so với nhóm DN nước ngoài.
Trong khi khối DN nước ngoài đóng góp thuế thu nhập tới 24% tổng số thuế của BXH V1000 năm nay. Nếu xét riêng nhóm mới gia nhập bảng xếp hạng (458 DN xuất hiện mới trong BXH V1000 năm 2013), thì tỷ lệ số DN nước ngoài chiếm tới hơn 45%, trong khi tỷ lệ tương ứng của nhóm DN tư nhân là 37,1% và DNNN là 17,5%.
Trong BXH V1000 năm 2013 có hơn 130 DN đã niêm yết trên 2 sàn chứng khoán HNX và HSX. Tuy vậy, số thuế của các DN này đóng góp tính trên tổng số thuế của 1000 DN thuộc bảng chỉ ở mức khiêm tốn 22%, mà phần đông vẫn là các DN thuộc ngành tài chính, ngân hàng và khoáng sản, xăng dầu.
Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh tiếp tục là hai điểm sáng trong bảng thành tích nộp thuế. Số lượng các DN lọt vào BXH V1000 năm 2013 của hai thành phố này là hơn 61% trong tổng số 1000 DN. Tỷ lệ nộp thuế của các DN thuộc hai địa bàn này lần lượt chiếm tới 43,7% và 33,2%.
Công nghiệp vẫn là ngành chiếm tỷ trọng đóng góp lớn nhất vào ngân sách, chiếm 61,8% trong tổng số thuế của 1000 DN nằm trong BXH năm 2013, nhờ sự đóng góp tích cực từ các ngành: dịch vụ kế toán thuế trọn gói viễn thông; khoáng sản, xăng dầu; xây dựng, bất động sản, vật liệu xây dựng…
Tiếp theo đó là lĩnh vực dịch vụ (26,8%) và các DN nông lâm thủy sản đóng góp khoảng 3,8% trong tổng số thuế của 1000 DN thuộc bảng vào ngân sách Chính phủ.

Xếp đầu bảng xếp hạng về nộp thuế vẫn là các doanh nghiệp nhà nước

Xếp đầu bảng xếp hạng về nộp thuế vẫn là các doanh nghiệp nhà nước
Tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp (DN) của 1000 DN trong bảng xếp hạng V1000 năm 2013 là khoảng 77 nghìn tỷ đồng, trong đó DNNN chiếm tới 52,6%.
Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) và Tạp chí Thuế – Tổng cục Thuế vừa chính thức công bố Bảng Xếp hạng 1000 DN nộp thuế thu nhập DN lớn nhất Việt Nam năm 2013 (BXH V1000) nhằm biểu dương, tôn vinh và khuyến khích các DN có mức nộp thuế thu nhập DN cao.
Xếp đầu bảng xếp hạng về nộp thuế vẫn là các doanh nghiệp nhà nước
Theo đánh giá của BXH, tình hình kinh doanh đã khởi sắc hơn, đồng thời ý thức về nghĩa vụ nộp thuế của các DN ít nhiều được cải thiện. Tổng số thuế thu nhập DN của BXH V1000 năm 2013 là khoảng 77 nghìn tỷ đồng.
Các DNNN vẫn đang thể hiện tốt vai trò quan trọng của nền kinh tế trong việc đóng góp thuế thu nhập DN vào ngân sách quốc gia, chiếm tới 52,6% tổng số thuế của bảng xếp hạng V1000. Trong số 100 gương mặt điển hình năm nay có tới 42% là DNNN, đóng góp 64,5% tổng số thuế của Top 100. Điều đó chứng tỏ lợi nhuận kinh doanh của nhóm DNNN ở mức cao và hiệu quả hoạt động được cải thiện rõ rệt.
Khối DN tư nhân chiếm tới hơn 50% số DN mới xuất hiện trong bảng V1000 năm trước, thì con số tương tự của năm nay chỉ là 37%. Đây là một bước thụt lùi lớn. Bên cạnh đó, trong tổng số thuế mà 1000 DN thuộc BXH đã nộp, số thuế của nhóm DN tư nhân chỉ chiếm 23,4%, thấp hơn so với nhóm DN nước ngoài.
Trong khi khối DN nước ngoài đóng góp thuế thu nhập tới 24% tổng số thuế của BXH V1000 năm nay. Nếu xét riêng nhóm mới gia nhập bảng xếp hạng (458 DN xuất hiện mới trong BXH V1000 năm 2013), thì tỷ lệ số DN nước ngoài chiếm tới hơn 45%, trong khi tỷ lệ tương ứng của nhóm DN tư nhân là 37,1% và DNNN là 17,5%.
Trong BXH V1000 năm 2013 có hơn 130 DN đã niêm yết trên 2 sàn chứng khoán HNX và HSX. Tuy vậy, số thuế của các DN này đóng góp tính trên tổng số thuế của 1000 DN thuộc bảng chỉ ở mức khiêm tốn 22%, mà phần đông vẫn là các DN thuộc ngành tài chính, ngân hàng và khoáng sản, xăng dầu.
Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh tiếp tục là hai điểm sáng trong bảng thành tích nộp thuế. Số lượng các DN lọt vào BXH V1000 năm 2013 của hai thành phố này là hơn 61% trong tổng số 1000 DN. Tỷ lệ nộp thuế của các DN thuộc hai địa bàn này lần lượt chiếm tới 43,7% và 33,2%.
Công nghiệp vẫn là ngành chiếm tỷ trọng đóng góp lớn nhất vào ngân sách, chiếm 61,8% trong tổng số thuế của 1000 DN nằm trong BXH năm 2013, nhờ sự đóng góp tích cực từ các ngành: dịch vụ kế toán thuế trọn gói viễn thông; khoáng sản, xăng dầu; xây dựng, bất động sản, vật liệu xây dựng…
Tiếp theo đó là lĩnh vực dịch vụ (26,8%) và các DN nông lâm thủy sản đóng góp khoảng 3,8% trong tổng số thuế của 1000 DN thuộc bảng vào ngân sách Chính phủ.

Đọc thêm..
Thách thức lớn của dịch vụ kiểm toán qua biên giới
Dịch vụ kiểm toán qua cửa khẩu, biên giới là do các công ty, tổ chức kiểm toán ở nước ngoài thực hiện công việc kiểm toán cho các doanh nghiệp, tổ chức hoạt động, phát hành báo cáo kiểm toán tại Việt Nam. Các công ty, tổ chức kiểm toán nước ngoài không cần hiện diên pháp nhân, hay thể nhân tại Việt Nam
Theo Nghị định 17/2012/NĐ-CP quy định và hướng dẫn một số điều Luật Kiểm toán độc lập, trong đó bắt buộc một số các điều kiện về việc cung cấp dịch vụ kiểm toán qua biên giới đối với các doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài như: Doanh nghiệp kiểm toán phải có vốn chủ sở hữu trên 500.000USD, mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiểm toán viên hành nghề tại Việt Nam, ký quỹ tương đương vốn pháp định tại ngân hàng thương mại Việt Nam. Đồng thời, doanh nghiệp phải có văn bản của cơ quan quản lý hành nghề của nước đặt trụ sở chính xác nhận không vi phạm pháp luật trong 3 năm liền trước khi cung cấp dịch vụ kiểm toán qua biên giới và có 5 kiểm toán viên được Bộ Tài chính Việt Nam cấp giấy chứng nhận hành nghề kiểm toán, trong đó có người đại diện theo pháp luật.
Thách thưc lớn của dịch vụ kiểm toán qua biên giới
Việc công nhận dịch vụ kiểm toán qua biên giới thực tế là sự đánh dấu cho sự ra đời một cách chính thức dịch vụ này theo đúng các cam kết mà Việt Nam đã ký với các tổ chức qua các hiệp định như: Hiệp định khung ASEAN (AFAS), Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ của tổ chức WTO (GATS).
Các doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam hiện nay chưa thể triển khai dịch vụ này ra nước ngoài bởi các văn bằng, chứng chỉ được đào tạo ở nước ta chưa được nước ngoài thừa nhận (trừ 4 công ty kiểm toán quốc tế có mặt tại Việt Nam).
Thạc sỹ  Phan Thanh Hải – Đại học Duy Tân (Đà Nẵng) chia sẻ, dịch vụ kiểm toán qua biên giới được thừa nhận đang là một thách thức đối với các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam, dịch vụ kế toán thuế trọn gói, bởi việc cung cấp dịch vụ kiểm toán qua biên giới đòi hỏi các doanh nghiệp kiểm toán phải có những hiểu biết sâu rộng về văn hóa kinh doanh, truyền thống của các quốc gia khác nhau, đặc biệt là hệ thống pháp luật quốc tế. Điều này các doanh nghiệp kiểm toán ở nước ta còn rất hạn chế.
Theo ông Hải, cần có những cuộc hội thảo khoa học để nhìn nhận đánh giá một cách đầy đủ những ưu điểm, hạn chế cũng như những cơ hội và thách thức của ngành kiểm toán độc lập trước bối cảnh hội nhập sâu rộng về dịch vụ kiểm toán trên thị trường quốc tế.  Đồng thời, phải làm lại các khâu: Hoàn thiện các văn bản pháp luật hướng dẫn về hành nghề kiểm toán cho phù hợp với các quy định chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Mặt khác, cần cải cách quy trình đào tạo, cấp các bằng cấp chứng chỉ hành nghề liên quan đến kiểm toán theo định hướng tiến đến công nhận các bằng cấp và văn bản lẫn nhau giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới.

Thách thức lớn của dịch vụ kiểm toán qua biên giới

Thách thức lớn của dịch vụ kiểm toán qua biên giới
Dịch vụ kiểm toán qua cửa khẩu, biên giới là do các công ty, tổ chức kiểm toán ở nước ngoài thực hiện công việc kiểm toán cho các doanh nghiệp, tổ chức hoạt động, phát hành báo cáo kiểm toán tại Việt Nam. Các công ty, tổ chức kiểm toán nước ngoài không cần hiện diên pháp nhân, hay thể nhân tại Việt Nam
Theo Nghị định 17/2012/NĐ-CP quy định và hướng dẫn một số điều Luật Kiểm toán độc lập, trong đó bắt buộc một số các điều kiện về việc cung cấp dịch vụ kiểm toán qua biên giới đối với các doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài như: Doanh nghiệp kiểm toán phải có vốn chủ sở hữu trên 500.000USD, mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiểm toán viên hành nghề tại Việt Nam, ký quỹ tương đương vốn pháp định tại ngân hàng thương mại Việt Nam. Đồng thời, doanh nghiệp phải có văn bản của cơ quan quản lý hành nghề của nước đặt trụ sở chính xác nhận không vi phạm pháp luật trong 3 năm liền trước khi cung cấp dịch vụ kiểm toán qua biên giới và có 5 kiểm toán viên được Bộ Tài chính Việt Nam cấp giấy chứng nhận hành nghề kiểm toán, trong đó có người đại diện theo pháp luật.
Thách thưc lớn của dịch vụ kiểm toán qua biên giới
Việc công nhận dịch vụ kiểm toán qua biên giới thực tế là sự đánh dấu cho sự ra đời một cách chính thức dịch vụ này theo đúng các cam kết mà Việt Nam đã ký với các tổ chức qua các hiệp định như: Hiệp định khung ASEAN (AFAS), Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ của tổ chức WTO (GATS).
Các doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam hiện nay chưa thể triển khai dịch vụ này ra nước ngoài bởi các văn bằng, chứng chỉ được đào tạo ở nước ta chưa được nước ngoài thừa nhận (trừ 4 công ty kiểm toán quốc tế có mặt tại Việt Nam).
Thạc sỹ  Phan Thanh Hải – Đại học Duy Tân (Đà Nẵng) chia sẻ, dịch vụ kiểm toán qua biên giới được thừa nhận đang là một thách thức đối với các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam, dịch vụ kế toán thuế trọn gói, bởi việc cung cấp dịch vụ kiểm toán qua biên giới đòi hỏi các doanh nghiệp kiểm toán phải có những hiểu biết sâu rộng về văn hóa kinh doanh, truyền thống của các quốc gia khác nhau, đặc biệt là hệ thống pháp luật quốc tế. Điều này các doanh nghiệp kiểm toán ở nước ta còn rất hạn chế.
Theo ông Hải, cần có những cuộc hội thảo khoa học để nhìn nhận đánh giá một cách đầy đủ những ưu điểm, hạn chế cũng như những cơ hội và thách thức của ngành kiểm toán độc lập trước bối cảnh hội nhập sâu rộng về dịch vụ kiểm toán trên thị trường quốc tế.  Đồng thời, phải làm lại các khâu: Hoàn thiện các văn bản pháp luật hướng dẫn về hành nghề kiểm toán cho phù hợp với các quy định chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Mặt khác, cần cải cách quy trình đào tạo, cấp các bằng cấp chứng chỉ hành nghề liên quan đến kiểm toán theo định hướng tiến đến công nhận các bằng cấp và văn bản lẫn nhau giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới.
Đọc thêm..
Xuất phát từ vướng mắc thực tế để có chính sách quản lý thuế
Để nâng cao hoạt động quản lý nợ thuế trong ngành Hải quan, một số Hải quan địa phương cho rằng, dự thảo Quy trình theo dõi quản lý nợ thuế cần xuất phát từ những vướng mắc trong thực tiễn hoạt động quản lý nợ để đưa ra quy trình quản lý chung một cách phù hợp…
Cần quy định rõ về thu thập thông tin
Về đối tượng doanh nghiệp (DN) cần xác minh thông tin, theo Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh, chỉ cần xác minh thông tin các đối tượng DN nợ thuế quá hạn trong 90 ngày và nợ quá hạn 90 ngày. Bởi đối với các khoản nợ thuế trong hạn, thuế được bảo lãnh thì không cần phải xác minh thêm vì không có tính khả thi (số lượng lớn) và chưa đến hạn thanh toán. Đối với các nhóm tiền thuế nợ chờ xử lý, chờ xóa, xét miễn, giảm, gia hạn… không cần phải xác minh thêm vì các nhóm nợ này là mục tiêu sau cùng của việc phân tích nợ (hồ sơ DN đã có hoặc đã có quyết định giải thể, hoặc đã xác định được DN bỏ trốn, mất tích… không có khả năng thu hồi).
Xuất phát từ vướng mắc thực tế để có chính sách quản lý thuế
Đối với việc thu thập thông tin của DN, theo Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh, để tránh lãng phí nhân lực cho việc thu thập thông tin DN đối với trường hợp nhiều chi cục, nhiều cục cùng xác minh một đối tượng DN (do DN cùng lúc nợ thuế tại nhiều chi cục khác nhau, nhiều cục khác nhau) thì cần quy định rõ cấp nào. Chi cục nào thu thập thông tin của DN và quy định rõ cơ chế chia sẻ thông tin.
Bên cạnh đó, trong việc xác minh tài khoản của người nộp thuế tại ngân hàng, thực tế hiện cả nước có nhiều ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng hoạt động. Cơ quan Hải quan sẽ không biết DN mở tài khoản ở ngân hàng nào để xác minh số tài khoản. Do vậy, dịch vụ kế toán thuế trọn gói việc xác minh tài khoản cần phải thành lập tổ chức đầu mối hỗ trợ phối hợp với hiệp hội ngân hàng…
Cùng góp ý về nội dung này, theo Cục Hải quan Hà Nội, thông tin về người nộp thuế có nợ thuế được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau và là căn cứ để công chức Hải quan được phân công quản lý nợ thuế đề xuất lãnh đạo chi cục phân loại nợ thuế. Cho nên, trong quy trình quản lý nợ cần xác định cụ thể phải có bao nhiêu thông tin, kết quả xác minh từ bao nhiêu nguồn hoặc thông tin từ cơ quan chức năng nào được sử dụng làm căn cứ để phân loại nợ thuế.
Bổ sung phương pháp khai thác thông tin
Cục Hải quan Hà Nội băn khoăn, để phân loại nợ của người nộp thuế không còn hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa điểm đăng ký kinh doanh, thì kết quả xác minh của chính quyền sở tại (công an cấp xã) có đủ hay không, hay phải xác nhận của cơ quan Thuế? Thông tin về tình trạng ngừng hoạt động của người nộp thuế trên website của Tổng cục Thuế có đủ điều kiện để phân loại nợ hay không? Việc xác định rõ căn cứ, điều kiện để phân loại nợ thuế không chỉ giúp cho quá trình thực thi của cơ quan Hải quan được thuận lợi mà còn tạo ra tính thống nhất trong việc thực hiện.
Vì vậy, theo Hải quan Hà Nội, cần bổ sung phương pháp khai thác thông tin  trên website của cơ quan chức năng. Với cách thức, công chức hải quan in màn hình kết quả tra cứu trên trang web, ký tên, đóng dấu công chức và lưu vào hồ sơ theo dõi nợ thuế.
Với quy định làm việc tại trụ sở của người nộp thuế, cả Cục Hải quan Hà Nội và Quảng Trị đều cho rằng, quy trình cần hướng dẫn rõ phương án xử lý trong trường hợp cơ quan Hải quan đến trụ sở người nộp thuế/ tổ chức bảo lãnh nhưng bị từ chối làm việc (người đại diện có thẩm quyền không tham gia làm việc hoặc lấy lý do vắng mặt) hoặc không ký vào biên bản làm việc…
Thực hiện bù trừ nợ thuế
Về đề nghị cơ quan Thuế thực hiện bù trừ số tiền thuế giá trị gia tăng được cơ quan Thuế giải quyết hoàn thuế của những DN nợ thuế bỏ trốn…, theo Cục Hải quan Hà Nội, tại quy trình quản lý nợ cần quy định rõ như sau: Trường hợp người nộp thuế còn khoản tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa (đã có quyết định hoàn thuế) nhưng không đến làm thủ tục hoàn thuế kiêm bù trừ thì chi cục gửi thông báo yêu cầu đối tượng nợ thuế thực hiện nộp thuế đối với khoản nợ, hoặc thực hiện bù trừ tiền thuế nộp thừa cho khoản tiền nợ thuế.
Trường hợp đối tượng nộp thuế có công văn đề nghị hoàn trả khoản thu ngân sách nhà nước (NSNN) trong đó ghi rõ việc bù trừ cho khoản phải nộp thì chi cục lập lệnh hoàn trả tiền bù trừ thu NSNN gửi Kho bạc Nhà nước nơi trực tiếp hoàn trả để thực hiện bù trừ.
Trường hợp hết thời hạn quy định theo thông báo mà đối tượng nộp thuế chưa thực hiện nộp thuế (hoặc chưa lập giấy đề nghị hoàn trả kiêm bù trừ) thì chi cục vẫn thực hiện lập lệnh hoàn trả kiêm bù trừ thu NSNN gửi Kho bạc Nhà nước nơi trực tiếp hoàn trả để thực hiện bù trừ, đồng thời gửi thông báo cho người nộp thuế biết.
Quy trình theo dõi, quản lý nợ thuế được Tổng cục Hải quan xây dựng để hải quan các địa phương thực hiện thống nhất việc theo dõi và quản lý nợ thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, đồng thời đảm bảo việc tuân thủ pháp luật trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của đối tượng nộp thuế. Đồng thời cũng là để phù hợp với những sửa đổi tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế.
Quy trình đưa ra các tiêu chí phân loại nợ (nhóm nợ khó thu, nhóm nợ chờ xử lý, nhóm nợ có khả năng thu), các bước thực hiện quản lý nợ…; và quy định nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị từ cấp Tổng cục đến cấp chi cục trong theo dõi, quản lý nợ thuế.
Nguồn: internet

Xuất phát từ vướng mắc thực tế để có chính sách quản lý thuế

Xuất phát từ vướng mắc thực tế để có chính sách quản lý thuế
Để nâng cao hoạt động quản lý nợ thuế trong ngành Hải quan, một số Hải quan địa phương cho rằng, dự thảo Quy trình theo dõi quản lý nợ thuế cần xuất phát từ những vướng mắc trong thực tiễn hoạt động quản lý nợ để đưa ra quy trình quản lý chung một cách phù hợp…
Cần quy định rõ về thu thập thông tin
Về đối tượng doanh nghiệp (DN) cần xác minh thông tin, theo Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh, chỉ cần xác minh thông tin các đối tượng DN nợ thuế quá hạn trong 90 ngày và nợ quá hạn 90 ngày. Bởi đối với các khoản nợ thuế trong hạn, thuế được bảo lãnh thì không cần phải xác minh thêm vì không có tính khả thi (số lượng lớn) và chưa đến hạn thanh toán. Đối với các nhóm tiền thuế nợ chờ xử lý, chờ xóa, xét miễn, giảm, gia hạn… không cần phải xác minh thêm vì các nhóm nợ này là mục tiêu sau cùng của việc phân tích nợ (hồ sơ DN đã có hoặc đã có quyết định giải thể, hoặc đã xác định được DN bỏ trốn, mất tích… không có khả năng thu hồi).
Xuất phát từ vướng mắc thực tế để có chính sách quản lý thuế
Đối với việc thu thập thông tin của DN, theo Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh, để tránh lãng phí nhân lực cho việc thu thập thông tin DN đối với trường hợp nhiều chi cục, nhiều cục cùng xác minh một đối tượng DN (do DN cùng lúc nợ thuế tại nhiều chi cục khác nhau, nhiều cục khác nhau) thì cần quy định rõ cấp nào. Chi cục nào thu thập thông tin của DN và quy định rõ cơ chế chia sẻ thông tin.
Bên cạnh đó, trong việc xác minh tài khoản của người nộp thuế tại ngân hàng, thực tế hiện cả nước có nhiều ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng hoạt động. Cơ quan Hải quan sẽ không biết DN mở tài khoản ở ngân hàng nào để xác minh số tài khoản. Do vậy, dịch vụ kế toán thuế trọn gói việc xác minh tài khoản cần phải thành lập tổ chức đầu mối hỗ trợ phối hợp với hiệp hội ngân hàng…
Cùng góp ý về nội dung này, theo Cục Hải quan Hà Nội, thông tin về người nộp thuế có nợ thuế được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau và là căn cứ để công chức Hải quan được phân công quản lý nợ thuế đề xuất lãnh đạo chi cục phân loại nợ thuế. Cho nên, trong quy trình quản lý nợ cần xác định cụ thể phải có bao nhiêu thông tin, kết quả xác minh từ bao nhiêu nguồn hoặc thông tin từ cơ quan chức năng nào được sử dụng làm căn cứ để phân loại nợ thuế.
Bổ sung phương pháp khai thác thông tin
Cục Hải quan Hà Nội băn khoăn, để phân loại nợ của người nộp thuế không còn hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa điểm đăng ký kinh doanh, thì kết quả xác minh của chính quyền sở tại (công an cấp xã) có đủ hay không, hay phải xác nhận của cơ quan Thuế? Thông tin về tình trạng ngừng hoạt động của người nộp thuế trên website của Tổng cục Thuế có đủ điều kiện để phân loại nợ hay không? Việc xác định rõ căn cứ, điều kiện để phân loại nợ thuế không chỉ giúp cho quá trình thực thi của cơ quan Hải quan được thuận lợi mà còn tạo ra tính thống nhất trong việc thực hiện.
Vì vậy, theo Hải quan Hà Nội, cần bổ sung phương pháp khai thác thông tin  trên website của cơ quan chức năng. Với cách thức, công chức hải quan in màn hình kết quả tra cứu trên trang web, ký tên, đóng dấu công chức và lưu vào hồ sơ theo dõi nợ thuế.
Với quy định làm việc tại trụ sở của người nộp thuế, cả Cục Hải quan Hà Nội và Quảng Trị đều cho rằng, quy trình cần hướng dẫn rõ phương án xử lý trong trường hợp cơ quan Hải quan đến trụ sở người nộp thuế/ tổ chức bảo lãnh nhưng bị từ chối làm việc (người đại diện có thẩm quyền không tham gia làm việc hoặc lấy lý do vắng mặt) hoặc không ký vào biên bản làm việc…
Thực hiện bù trừ nợ thuế
Về đề nghị cơ quan Thuế thực hiện bù trừ số tiền thuế giá trị gia tăng được cơ quan Thuế giải quyết hoàn thuế của những DN nợ thuế bỏ trốn…, theo Cục Hải quan Hà Nội, tại quy trình quản lý nợ cần quy định rõ như sau: Trường hợp người nộp thuế còn khoản tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa (đã có quyết định hoàn thuế) nhưng không đến làm thủ tục hoàn thuế kiêm bù trừ thì chi cục gửi thông báo yêu cầu đối tượng nợ thuế thực hiện nộp thuế đối với khoản nợ, hoặc thực hiện bù trừ tiền thuế nộp thừa cho khoản tiền nợ thuế.
Trường hợp đối tượng nộp thuế có công văn đề nghị hoàn trả khoản thu ngân sách nhà nước (NSNN) trong đó ghi rõ việc bù trừ cho khoản phải nộp thì chi cục lập lệnh hoàn trả tiền bù trừ thu NSNN gửi Kho bạc Nhà nước nơi trực tiếp hoàn trả để thực hiện bù trừ.
Trường hợp hết thời hạn quy định theo thông báo mà đối tượng nộp thuế chưa thực hiện nộp thuế (hoặc chưa lập giấy đề nghị hoàn trả kiêm bù trừ) thì chi cục vẫn thực hiện lập lệnh hoàn trả kiêm bù trừ thu NSNN gửi Kho bạc Nhà nước nơi trực tiếp hoàn trả để thực hiện bù trừ, đồng thời gửi thông báo cho người nộp thuế biết.
Quy trình theo dõi, quản lý nợ thuế được Tổng cục Hải quan xây dựng để hải quan các địa phương thực hiện thống nhất việc theo dõi và quản lý nợ thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, đồng thời đảm bảo việc tuân thủ pháp luật trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của đối tượng nộp thuế. Đồng thời cũng là để phù hợp với những sửa đổi tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế.
Quy trình đưa ra các tiêu chí phân loại nợ (nhóm nợ khó thu, nhóm nợ chờ xử lý, nhóm nợ có khả năng thu), các bước thực hiện quản lý nợ…; và quy định nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị từ cấp Tổng cục đến cấp chi cục trong theo dõi, quản lý nợ thuế.
Nguồn: internet

Đọc thêm..

Ngày 20/3/2006, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ra Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC “về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế”. Chế độ kế toán mới ban hành đã cập nhật các nội dung quy định trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam và Luật kế toán Việt Nam, gồm 4 phần:

  1.  thống tài khoản kế toán.
  2. Hệ thống báo cáo tài chính.
  3. Chế độ chứng từ kế toán.
  4. Chế độ sổ kế toán.
Quyết định này đã thay thế Quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT ban hành ngày 01/11/1995 và một số Quyết định và Thông tư hướng dẫn do Bộ Tài chính đã ban hành trong giai đoạn từ 1996-2000 (trước khi bắt đầu xuất hiện chuẩn mực kế toán Việt Nam). Đó là:
  • yết định 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 của ban hành “Chế độ BCTC doanh nghiệp”;
  • Thông tư 10 TC/CĐKT ngày 20/3/1997 “Hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Chế độ kế toán DN”;
  • Thông tư 33/1998/TT-BTC ngày 17/3/1998 “Hướng dẫn hạch toán trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá CK tại DNNN”;
  • Thông tư 77/1998/TT-BTC ngày 06/6/1998 “Hướng dẫn tỷ giá quy đổi ngoại tệ ra VNĐ sử dụng trong hạch toán kế toán ở doanh nghiệp”;
  • Thông tư 100/1998/TT-BTC ngày 15/7/1998 “Hướng dẫn kế toán thuế GTGT, thuế TNDN”;
  • Thông tư 180/1998/TT-BTC ngày 26/12/1998 “Hướng dẫn bổ sung kế toán thuế GTGT”;
  • Thông tư 186/1998/TT-BTC ngày 28/12/1998 “Hướng dẫn kế toán thuế xuất, nhập khẩu, TTĐB”;
  • Thông tư 107/1999/TT-BTC ngày 01/9/1999 “Hướng dẫn kế toán thuế GTGT với hoạt động thuê tài chính”;
  • Thông tư 120/1999/TT-BTC ngày 7/10/1999 “Hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán DN”;
  • Thông tư 54/2000/TT-BTC ngày 07/6/2000 “Hướng dẫn kế toán đối với hàng hoá của các cơ sở kinh doanh bán tại các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc ở các tỉnh, thành phố khác và xuất bán qua đại lý bán đúng giá hưởng hoa hồng”.
Quyết định 15 của bộ tài chính về kế toán được ban hành đánh dấu bước tổng hợp và hoàn thiện Chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam từ xuất phát điểm là QĐ số 1141-TC/QĐ/CĐKT sau đó là tiến trình tăng tốc hết sức ấn tượng bởi sự ra đời của hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS) cùng hàng loạt các Thông tư hướng dẫn và đặc biệt là Luật Kế toán. Về cơ bản, các nội dung trong Quyết định 15/2006/QĐ-BTC không thay đổi gì nhiều so với các quyết định trước đây. Tuy nhiên, về mặt chi tiết, Quyết định 15/2006/QĐ-BTC đã tổng hợp những sửa đổi, bổ sung được Bộ Tài chính ban hành riêng rẽ lâu nay, cũng như phần nào kết hợp được những quy định của hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam được ban hành liên tục trong suốt 5 năm qua (2001-2005).
Không thể phủ nhận vai trò nền tảng vô cùng quan trọng của Quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT trong việc hình thành chế độ kế toán Việt Nam hiện hành. Sự ra đời và đi vào cuộc sống của Quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT đã chính thức mở ra một trang sử mới cho nghề kế toán Việt Nam, khẳng định quyết tâm hội nhập kinh tế thị trường của kế toán Việt Nam từ hơn 10 năm trước.
Tuy nhiên trong hơn 10 năm qua, để cập nhật những biến động từng ngày, theo kịp đà phát triển của nền kinh tế trong nước, khu vực và tiến tới hội nhập quốc tế, Bộ Tài chính đã phải liên tiếp ban hành nhiều quyết định, thông tư và văn bản hướng dẫn, sửa đổi bổ sung Quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT này.
Điều này đến một lúc nào đó, sẽ làm phức tạp hóa về mặt hình thức công tác pháp chế về chế độ kế toán Việt Nam. Đã đến lúc cần có một động thái tổng hợp. Vì thế, Quyết định 15/2006/QĐ-BTC tuy không hàm chứa nhiều yếu tố mới mẽ, nhưng xét ở khía cạnh nào đó, đã giúp cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, thuộc mọi lĩnh vực hoạt động có thể đơn giản hoá công tác nghiên cứu và tuân thủ chế độ kế toán, nhất thể hoá công tác kế toán, tiến tới nâng cao tính minh bạch trong kế toán, tài chính doanh nghiệp, đảm bảo tính có thể so sánh được về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Việt Nam nói riêng và trên bình diện hội nhập toàn cầu nói chung.
MỘT SỐ LƯU Ý:

Một số điểm mới tiêu biểu của Chế độ kế toán theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC so với Quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT?
Cách bố trí sắp xếp các số dư, khoản mục và thông tin trên 4 BCTC, quy định về trình bày thu nhập chi phí kinh doanh sát với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp hơn, thêm chế định về một số hoạt động mới phát sinh như kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết, vào chứng khoán, tài sản và nợ tiềm tàng, mua bán doanh nghiệp…đáp ứng được yêu cầu của kinh tế thị trường. Và lần đầu tiên, kế toán Việt Nam xuất hiện các tài khoản 243-“Tài sản thuế thu nhập hoãn lại”, 347–“Thuế thu nhập hoãn lại phải trả” và 821-“Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp”. Đây sẽ là chìa khóa để giải quyết căn bản bài toán hạch toán chênh lệch giữa kế toán và thuế, vốn đã từng làm đau đầu không ít nhà kế toán Việt Nam bao năm qua.
Đối tượng nào không phải áp dụng chế độ kế toán theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC?
Điều 1, Quyết định 15/2006/QĐ-BTC đã nêu: “áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế”. Tuy nhiên, ở điều 3 thì chỉ nói Quyết định 15/2006/QĐ-BTC thay thế cho Quyết định số 1141TC/QĐ/CĐKT và các thông tư văn bản có liên quan khác mà không nói thay thế cho Quyết định số 1177 TC/QĐ/CĐKT và Quyết định số 144/2001/QĐ-BTC về chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đi vào chi tiết mục I.A.2 phần quy định về đối tượng áp dụng hệ thống BCTC ban hành kèm theo, Quyết định nêu rõ: “Riêng các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn tuân thủ các quy định chung tại phần này và những qui định, hướng dẫn cụ thể phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ.”
Các chế độ kế toán đặc thù thì vẫn còn hiệu lực thi hành. (VD: Chế độ kế toán Hộ kinh doanh – QĐ 169/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000; Chế độ kế toán hợp nhất Ngân sách và nghiệp vụ  Kho bạc Nhà nước, Hệ thống tài khoản kế toán NHNN và hệ thống tài khoản kế toán các TCTD – QĐ 425/1998/QĐ-NHNN2 ngày 17/12/1998. Chế độ kế toán Trung tâm giao dịch chứng khoán; Chế độ kế toán Công ty chứng khoán; Chế độ kế toán doanh nghiệp Bảo hiểm; Quỹ Hỗ trợ phát triển).
Mối quan hệ giữa quyết định 15/2006/QĐ-BTCvới các quyết định ban hành chuẩn mực kế toán Việt Nam và các thông tư hướng dẫn chuẩn mực?
Các nội dung quy định trong các Quyết định ban hành Chuẩn mực kế toán và các Thông tư hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán từ đợt 1 đến đợt 5 không trái với nội dung Quyết định này vẫn còn hiệu lực.
Việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự được quy định bổ sung ở Chuẩn mực kế toán số 22 “Trình bày bổ sung BCTC của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự” và các văn bản quy định cụ thể.
Công ty mẹ và tập đoàn lập báo cáo tài chính hợp nhất phải tuân thủ quy định tại chuẩn mực kế toán số 25 “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con”. Đơn vị kế toán cấp trên có các đơn vị kế toán trực thuộc hoặc Tổng công ty Nhà nước hoạt động theo mô hình không có công ty con phải lập BCTC tổng hợp theo quy định tại Thông tư hướng dẫn kế toán thực hiện Chuẩn mực kế toán 25 “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con”.
Quyết định 15 của bộ tài chính về kế toánrong> có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo và áp dụng thống nhất trong cả nước từ năm tài chính 2006.

Quyết định 15 của bộ tài chính về kế toán

Ngày 20/3/2006, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ra Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC “về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế”. Chế độ kế toán mới ban hành đã cập nhật các nội dung quy định trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam và Luật kế toán Việt Nam, gồm 4 phần:

  1.  thống tài khoản kế toán.
  2. Hệ thống báo cáo tài chính.
  3. Chế độ chứng từ kế toán.
  4. Chế độ sổ kế toán.
Quyết định này đã thay thế Quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT ban hành ngày 01/11/1995 và một số Quyết định và Thông tư hướng dẫn do Bộ Tài chính đã ban hành trong giai đoạn từ 1996-2000 (trước khi bắt đầu xuất hiện chuẩn mực kế toán Việt Nam). Đó là:
  • yết định 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 của ban hành “Chế độ BCTC doanh nghiệp”;
  • Thông tư 10 TC/CĐKT ngày 20/3/1997 “Hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Chế độ kế toán DN”;
  • Thông tư 33/1998/TT-BTC ngày 17/3/1998 “Hướng dẫn hạch toán trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá CK tại DNNN”;
  • Thông tư 77/1998/TT-BTC ngày 06/6/1998 “Hướng dẫn tỷ giá quy đổi ngoại tệ ra VNĐ sử dụng trong hạch toán kế toán ở doanh nghiệp”;
  • Thông tư 100/1998/TT-BTC ngày 15/7/1998 “Hướng dẫn kế toán thuế GTGT, thuế TNDN”;
  • Thông tư 180/1998/TT-BTC ngày 26/12/1998 “Hướng dẫn bổ sung kế toán thuế GTGT”;
  • Thông tư 186/1998/TT-BTC ngày 28/12/1998 “Hướng dẫn kế toán thuế xuất, nhập khẩu, TTĐB”;
  • Thông tư 107/1999/TT-BTC ngày 01/9/1999 “Hướng dẫn kế toán thuế GTGT với hoạt động thuê tài chính”;
  • Thông tư 120/1999/TT-BTC ngày 7/10/1999 “Hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán DN”;
  • Thông tư 54/2000/TT-BTC ngày 07/6/2000 “Hướng dẫn kế toán đối với hàng hoá của các cơ sở kinh doanh bán tại các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc ở các tỉnh, thành phố khác và xuất bán qua đại lý bán đúng giá hưởng hoa hồng”.
Quyết định 15 của bộ tài chính về kế toán được ban hành đánh dấu bước tổng hợp và hoàn thiện Chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam từ xuất phát điểm là QĐ số 1141-TC/QĐ/CĐKT sau đó là tiến trình tăng tốc hết sức ấn tượng bởi sự ra đời của hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS) cùng hàng loạt các Thông tư hướng dẫn và đặc biệt là Luật Kế toán. Về cơ bản, các nội dung trong Quyết định 15/2006/QĐ-BTC không thay đổi gì nhiều so với các quyết định trước đây. Tuy nhiên, về mặt chi tiết, Quyết định 15/2006/QĐ-BTC đã tổng hợp những sửa đổi, bổ sung được Bộ Tài chính ban hành riêng rẽ lâu nay, cũng như phần nào kết hợp được những quy định của hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam được ban hành liên tục trong suốt 5 năm qua (2001-2005).
Không thể phủ nhận vai trò nền tảng vô cùng quan trọng của Quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT trong việc hình thành chế độ kế toán Việt Nam hiện hành. Sự ra đời và đi vào cuộc sống của Quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT đã chính thức mở ra một trang sử mới cho nghề kế toán Việt Nam, khẳng định quyết tâm hội nhập kinh tế thị trường của kế toán Việt Nam từ hơn 10 năm trước.
Tuy nhiên trong hơn 10 năm qua, để cập nhật những biến động từng ngày, theo kịp đà phát triển của nền kinh tế trong nước, khu vực và tiến tới hội nhập quốc tế, Bộ Tài chính đã phải liên tiếp ban hành nhiều quyết định, thông tư và văn bản hướng dẫn, sửa đổi bổ sung Quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT này.
Điều này đến một lúc nào đó, sẽ làm phức tạp hóa về mặt hình thức công tác pháp chế về chế độ kế toán Việt Nam. Đã đến lúc cần có một động thái tổng hợp. Vì thế, Quyết định 15/2006/QĐ-BTC tuy không hàm chứa nhiều yếu tố mới mẽ, nhưng xét ở khía cạnh nào đó, đã giúp cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, thuộc mọi lĩnh vực hoạt động có thể đơn giản hoá công tác nghiên cứu và tuân thủ chế độ kế toán, nhất thể hoá công tác kế toán, tiến tới nâng cao tính minh bạch trong kế toán, tài chính doanh nghiệp, đảm bảo tính có thể so sánh được về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Việt Nam nói riêng và trên bình diện hội nhập toàn cầu nói chung.
MỘT SỐ LƯU Ý:

Một số điểm mới tiêu biểu của Chế độ kế toán theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC so với Quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT?
Cách bố trí sắp xếp các số dư, khoản mục và thông tin trên 4 BCTC, quy định về trình bày thu nhập chi phí kinh doanh sát với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp hơn, thêm chế định về một số hoạt động mới phát sinh như kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết, vào chứng khoán, tài sản và nợ tiềm tàng, mua bán doanh nghiệp…đáp ứng được yêu cầu của kinh tế thị trường. Và lần đầu tiên, kế toán Việt Nam xuất hiện các tài khoản 243-“Tài sản thuế thu nhập hoãn lại”, 347–“Thuế thu nhập hoãn lại phải trả” và 821-“Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp”. Đây sẽ là chìa khóa để giải quyết căn bản bài toán hạch toán chênh lệch giữa kế toán và thuế, vốn đã từng làm đau đầu không ít nhà kế toán Việt Nam bao năm qua.
Đối tượng nào không phải áp dụng chế độ kế toán theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC?
Điều 1, Quyết định 15/2006/QĐ-BTC đã nêu: “áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế”. Tuy nhiên, ở điều 3 thì chỉ nói Quyết định 15/2006/QĐ-BTC thay thế cho Quyết định số 1141TC/QĐ/CĐKT và các thông tư văn bản có liên quan khác mà không nói thay thế cho Quyết định số 1177 TC/QĐ/CĐKT và Quyết định số 144/2001/QĐ-BTC về chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đi vào chi tiết mục I.A.2 phần quy định về đối tượng áp dụng hệ thống BCTC ban hành kèm theo, Quyết định nêu rõ: “Riêng các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn tuân thủ các quy định chung tại phần này và những qui định, hướng dẫn cụ thể phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ.”
Các chế độ kế toán đặc thù thì vẫn còn hiệu lực thi hành. (VD: Chế độ kế toán Hộ kinh doanh – QĐ 169/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000; Chế độ kế toán hợp nhất Ngân sách và nghiệp vụ  Kho bạc Nhà nước, Hệ thống tài khoản kế toán NHNN và hệ thống tài khoản kế toán các TCTD – QĐ 425/1998/QĐ-NHNN2 ngày 17/12/1998. Chế độ kế toán Trung tâm giao dịch chứng khoán; Chế độ kế toán Công ty chứng khoán; Chế độ kế toán doanh nghiệp Bảo hiểm; Quỹ Hỗ trợ phát triển).
Mối quan hệ giữa quyết định 15/2006/QĐ-BTCvới các quyết định ban hành chuẩn mực kế toán Việt Nam và các thông tư hướng dẫn chuẩn mực?
Các nội dung quy định trong các Quyết định ban hành Chuẩn mực kế toán và các Thông tư hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán từ đợt 1 đến đợt 5 không trái với nội dung Quyết định này vẫn còn hiệu lực.
Việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự được quy định bổ sung ở Chuẩn mực kế toán số 22 “Trình bày bổ sung BCTC của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự” và các văn bản quy định cụ thể.
Công ty mẹ và tập đoàn lập báo cáo tài chính hợp nhất phải tuân thủ quy định tại chuẩn mực kế toán số 25 “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con”. Đơn vị kế toán cấp trên có các đơn vị kế toán trực thuộc hoặc Tổng công ty Nhà nước hoạt động theo mô hình không có công ty con phải lập BCTC tổng hợp theo quy định tại Thông tư hướng dẫn kế toán thực hiện Chuẩn mực kế toán 25 “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con”.
Quyết định 15 của bộ tài chính về kế toánrong> có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo và áp dụng thống nhất trong cả nước từ năm tài chính 2006.
Đọc thêm..

Thành tựu của nền kinh tế trong mấy thập kỷ đổi mới qua có công đóng góp của những người làm kế toán, kiểm toán. Tuy nhiên, không phải ở đâu và lúc nào những người làm kế toán, kiểm toán cũng được tôn trọng.

Muốn có những kế toán viên kiểm toán viên bản lĩnh, có trình độ, kỹ năng nghề nghiệp để tạo ra những bản báo cáo tài chinh trung thực, rõ ràng, minh bạch, tin cậy tạo niềm tin cho những đối tượng sử dụng báo cáo tài chinh, không  chỉ cần sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, chuyên môn của mỗi cá nhân làm nghề kế toán, kiểm toán mà còn cầm môi trường đào tạo, bồi dưỡng liên tục và đúng đắn.
Và hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán là một trong những cái nôi đào tạo, bổi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ của những người làm nghề kế toán, kiểm toán.
Sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng kế toán viên, kiểm toán viên của hội nghề nghiệp được các vị tiền bối như đồng chí Hồ tế, Nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính, nguyên Chủ nhiệm Câu lạc bộ Kế toán trưởng toàn quốc đầu tiên; cố GS.TS Võ Đình Hảo, vị Chủ tịch đầu tiên xây nền. Từ tâm huyết của các vị tiền bối, mong muốn của những người làm nghề kế toán, kiểm toán muốn xây dựng một tổ chức riêng để bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nghiệp vụ chuyên môn cho những người làm nghề kế toán để theo kịp với yêu cầu đổi mới kế toán theo cơ chế thị trường, hòa nhập với kế toán cả nước, lớp lớp thế hệ lãnh đạo và cán bộ Hội từ Trung ương đến cơ sở tổ chức nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho những người làm kế toán, kiểm toán.Trung tâm Bồi dưỡng và Trung ương Hội Kế toán Việt Nam đã mở được nhiều khóa đào tạo, từ cập nhập thông tin về các chính sách, chế độ mới đến các khóa bồi dưỡng cấp chứng chỉ kế toán trưởng doanh nghiệp, kinh tế trưởng hành chính sự nghiệp, đến các khóa đào tạo kế toán viên cho các ngành, các địa phương và gần đây là các khóa bồi dưỡng ôn thi chứng chỉ hành nghề kế toán… Có thể nói, các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức ngắn hạn của hội nghề nghiệp đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao trình độ chuyên môn và nản lĩnh nghề nghiệp của đông đảo các kế toán viên trên một địa bàn rộng khắp ba miền đất nước, ở nhiều ngành khác nhau.

Cần có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán

Nhà nước ta, các ngành và Hội cần phải sớm nghiên cứu để hoạch định và hợp sức triển khai một chiến lược dài hạn về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán để có thể thực hiện tốt nhất những chức năng vốn có; góp phần vào quá trình nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn nhân lực cho sự nghiệp hiện đại hóa đất nước, phục vụ mục tiêu minh bạch hóa, công khai hóa các quan hệ tài chính.
Những nội dung của chiến lược này cần được nghiên cứu cẩn trọng và cơ bản, tuy vậy, theo t phải bao gồm những hạng mục chính cơ bản như sau:








  • Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng kế toán viên, kiểm toán viên theo chuẩn mực quốc tế, phù hợp với môi trường kinh tế, môi trường văn hóa, môi trường kế toán và kiểm toán Việt Nam.
  • Tạo dựng một không gian kinh tế, một môi trường nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu công khai, minh bạch, dân chủ, trong các mối quan hệ lợi ích, trong môi trường đó, chỉ có chỗ cho những người thạo việc và giữ vững đạo đức nghề nghiệp. trong không gian đó, người kế toán và kiểm toán giỏi được vinh danh, tôn trọng và có thu nhập xứng với lao động của họ.
  • Thiết chế một hệ thống giáo dục, đào tạo quốc gia từ thấp lên cao, trong đó ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông đã có hướng nghiệp kế toán, kiểm toán, tạo cho học sinh những sự tiếp cận cần thiết với các vùng kiến thức có tính cơ sở cho họ sau này khi học các ngành kinh tế nói chung và kế toán, kiểm toán nói riêng.
  • Cần xây dựng các trường trọng điểm đào tạo kế toán, kiểm toán. Cần sớm thành lập đại học kế toán và kiểm toán và tách riêng chuyên ngành kiểm toán khỏi kế toán hoặc khoa quản trị kinh doanh ở các trường đại học, cao đẳng. Cần có giải pháp tuyển chọn, đào tạo cho kỳ được những cử nhân giỏi về kế toán, kiểm toán. Cần tạo điều kiện để sinh viên học tập, nghiên cứu và thực tập ngay tại các phòng tài chinh, kế toán các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và các công ty làm dịch vụ kế toán, kiểm toán. Cần có cơ chế tài chinh để đảm bảo cho giảng viên được trả khoản thù lao hợp lý và các doanh nghiệp, tổ chức tham gia đào tạo có quyền ưu tiên xét chọn các cử nhân giỏi cho nguồn lực của hộ. Trong các chu trình đào tạo, sớm nghiên cứu để đào tạo các chức danh kế toán như: kế toán viên, kế toán viên tổng hợp, kế toán phó, kế toán trưởng và giám đốc tài chinh và các chức danh kế toán như kế toán viên, kế toán chính, kế toán viên cao cấp, chuyên gia kế toán, kiểm toán.
  • Củng cố, đề cao vai trò của hội nghề nghiệp. Cần sớm chuyển giao việc quản lý hành nghề kế toán, kiểm toán một cách thực chất, toàn diện và triệt để cho các hội nghề nghiệp. Theo đó, việc ban hành chuẩn mực kế toán, kiểm toán, việc quản lý và kiểm tra hành nghề kế toán, kiểm toán, việc tổ chức ôn thi, thi và cấp chứng chỉ nghề nghiệp về kế toán và kiểm toán cần sớm giao cho hội nghề nghiệp như các nước đã làm suốt từ thập kỷ qua.
Đế làm được diều này, tổ chức của hội phải được kiện toàn về nhân lực, trước hết là nhân lực lãnh đạo cấp trung ương và cấp hội thành viên đều phải được tăng cường về số lượng và chất lượng đó phải là những người ưu tú, giàu tâm huyết, vô tư, không vụ lợi và dần dần trẻ hóa. Hội cần có các định chế, các tổ chức sự nghiệp có thu, các doanh nghiệp để tạo nguồn tài lực cho bản thân hoạt động của Hội.
Hội có bổ phận vun bồi và phát triển tài năng của kế toán viên, kiểm toán viên. Lúc đó, hội thực sự là mái nhà chung, che trở nuôi dưỡng những tài năng và bênh vực cho quyền lợi hợp pháp của hội viên và các Hội thành viên.
Hội cần sớm có đủ lực lượng (cơ hữu, cộng tác viên) để nghiên cứu, biên soạn chuẩn mực, các quy phạm và giáo trình đào tạo. Hội cần tăng cường nhân lực và tiềm lực cho Ban quản lý hành nghề kế toán, kiểm toán. Hội cần có Viện nghiên cứu kế toán, kiểm toán và trường đào tạo kế toán, kiểm toán viên (ít nhất là ở bậc cao đẳng)

Những việc cần làm ngay để có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán

Như vậy, có một số nội dung công việc mà VAA phải sớm giải quyết. 
Một là, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, VAA cùng một số cơ sở đào tạo trọng điểm nghiên cứu một đề tài độc lập cấp nhà nước, sau đó triển khai xây dựng một chiến lược đào tạo kế toán viên, kiểm toán viên trình Chính phủ để thực hiện từ năm 202 trở đi;
Hai là, Bộ Tài chính sớm ban hành các quyết định để chuyển giao công tác quản lý hành nghề kế toán, kiểm toán cho Hội nghề nghiệp một cách triệt để, thay cho các Quyết định hiện hành còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ;
Ba là, VAA phải tiến hành cuộc cải tổ cơ bản để thực sự trở thành Hội mang đạm tính chất xã hội – nghề nghiệp phát huy sức mạnh của hội thành viên, hướng vào phương châm đoàn kết, hội nhập và phát triển.
Cần sớm chấm dứt cơ chế bán phần bao cấp như hiện nay chuyển hẳn tổ chức và hoạt động của có quan TW Hội, của các hội thành viên thành các tổ chức tự chủ, tự trang trải trên cơ sở đa dạng hóa việc cung cấp các dịch vụ mang tính nghề nghiệp để tạo ra nguồn lực tài chinh cho sự phát triển và lan tỏa các hoạt động của Hội.
Bốn là, khơi dậy lòng tự hào và trách nhiệm nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội của toàn Hội, của từng hội thành viên và đặc biệt là hội viên trong rèn luyện, tu nghiệp, tự quảng bá và vinh danh thương hiệu nghề nghiệp kế toán, kiểm toán.
Nếu thực thi được, chắc chắn sẽ tạo ra sự chuyển động tích cực cho Hội, cho nghề nghiệp kế toán, kiểm toán khi bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới.

Về một chiến lược phát triển nguồn nhân lực kế toán kiểm toán

Thành tựu của nền kinh tế trong mấy thập kỷ đổi mới qua có công đóng góp của những người làm kế toán, kiểm toán. Tuy nhiên, không phải ở đâu và lúc nào những người làm kế toán, kiểm toán cũng được tôn trọng.

Muốn có những kế toán viên kiểm toán viên bản lĩnh, có trình độ, kỹ năng nghề nghiệp để tạo ra những bản báo cáo tài chinh trung thực, rõ ràng, minh bạch, tin cậy tạo niềm tin cho những đối tượng sử dụng báo cáo tài chinh, không  chỉ cần sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, chuyên môn của mỗi cá nhân làm nghề kế toán, kiểm toán mà còn cầm môi trường đào tạo, bồi dưỡng liên tục và đúng đắn.
Và hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán là một trong những cái nôi đào tạo, bổi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ của những người làm nghề kế toán, kiểm toán.
Sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng kế toán viên, kiểm toán viên của hội nghề nghiệp được các vị tiền bối như đồng chí Hồ tế, Nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính, nguyên Chủ nhiệm Câu lạc bộ Kế toán trưởng toàn quốc đầu tiên; cố GS.TS Võ Đình Hảo, vị Chủ tịch đầu tiên xây nền. Từ tâm huyết của các vị tiền bối, mong muốn của những người làm nghề kế toán, kiểm toán muốn xây dựng một tổ chức riêng để bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nghiệp vụ chuyên môn cho những người làm nghề kế toán để theo kịp với yêu cầu đổi mới kế toán theo cơ chế thị trường, hòa nhập với kế toán cả nước, lớp lớp thế hệ lãnh đạo và cán bộ Hội từ Trung ương đến cơ sở tổ chức nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho những người làm kế toán, kiểm toán.Trung tâm Bồi dưỡng và Trung ương Hội Kế toán Việt Nam đã mở được nhiều khóa đào tạo, từ cập nhập thông tin về các chính sách, chế độ mới đến các khóa bồi dưỡng cấp chứng chỉ kế toán trưởng doanh nghiệp, kinh tế trưởng hành chính sự nghiệp, đến các khóa đào tạo kế toán viên cho các ngành, các địa phương và gần đây là các khóa bồi dưỡng ôn thi chứng chỉ hành nghề kế toán… Có thể nói, các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức ngắn hạn của hội nghề nghiệp đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao trình độ chuyên môn và nản lĩnh nghề nghiệp của đông đảo các kế toán viên trên một địa bàn rộng khắp ba miền đất nước, ở nhiều ngành khác nhau.

Cần có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán

Nhà nước ta, các ngành và Hội cần phải sớm nghiên cứu để hoạch định và hợp sức triển khai một chiến lược dài hạn về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán để có thể thực hiện tốt nhất những chức năng vốn có; góp phần vào quá trình nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn nhân lực cho sự nghiệp hiện đại hóa đất nước, phục vụ mục tiêu minh bạch hóa, công khai hóa các quan hệ tài chính.
Những nội dung của chiến lược này cần được nghiên cứu cẩn trọng và cơ bản, tuy vậy, theo t phải bao gồm những hạng mục chính cơ bản như sau:








  • Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng kế toán viên, kiểm toán viên theo chuẩn mực quốc tế, phù hợp với môi trường kinh tế, môi trường văn hóa, môi trường kế toán và kiểm toán Việt Nam.
  • Tạo dựng một không gian kinh tế, một môi trường nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu công khai, minh bạch, dân chủ, trong các mối quan hệ lợi ích, trong môi trường đó, chỉ có chỗ cho những người thạo việc và giữ vững đạo đức nghề nghiệp. trong không gian đó, người kế toán và kiểm toán giỏi được vinh danh, tôn trọng và có thu nhập xứng với lao động của họ.
  • Thiết chế một hệ thống giáo dục, đào tạo quốc gia từ thấp lên cao, trong đó ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông đã có hướng nghiệp kế toán, kiểm toán, tạo cho học sinh những sự tiếp cận cần thiết với các vùng kiến thức có tính cơ sở cho họ sau này khi học các ngành kinh tế nói chung và kế toán, kiểm toán nói riêng.
  • Cần xây dựng các trường trọng điểm đào tạo kế toán, kiểm toán. Cần sớm thành lập đại học kế toán và kiểm toán và tách riêng chuyên ngành kiểm toán khỏi kế toán hoặc khoa quản trị kinh doanh ở các trường đại học, cao đẳng. Cần có giải pháp tuyển chọn, đào tạo cho kỳ được những cử nhân giỏi về kế toán, kiểm toán. Cần tạo điều kiện để sinh viên học tập, nghiên cứu và thực tập ngay tại các phòng tài chinh, kế toán các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và các công ty làm dịch vụ kế toán, kiểm toán. Cần có cơ chế tài chinh để đảm bảo cho giảng viên được trả khoản thù lao hợp lý và các doanh nghiệp, tổ chức tham gia đào tạo có quyền ưu tiên xét chọn các cử nhân giỏi cho nguồn lực của hộ. Trong các chu trình đào tạo, sớm nghiên cứu để đào tạo các chức danh kế toán như: kế toán viên, kế toán viên tổng hợp, kế toán phó, kế toán trưởng và giám đốc tài chinh và các chức danh kế toán như kế toán viên, kế toán chính, kế toán viên cao cấp, chuyên gia kế toán, kiểm toán.
  • Củng cố, đề cao vai trò của hội nghề nghiệp. Cần sớm chuyển giao việc quản lý hành nghề kế toán, kiểm toán một cách thực chất, toàn diện và triệt để cho các hội nghề nghiệp. Theo đó, việc ban hành chuẩn mực kế toán, kiểm toán, việc quản lý và kiểm tra hành nghề kế toán, kiểm toán, việc tổ chức ôn thi, thi và cấp chứng chỉ nghề nghiệp về kế toán và kiểm toán cần sớm giao cho hội nghề nghiệp như các nước đã làm suốt từ thập kỷ qua.
Đế làm được diều này, tổ chức của hội phải được kiện toàn về nhân lực, trước hết là nhân lực lãnh đạo cấp trung ương và cấp hội thành viên đều phải được tăng cường về số lượng và chất lượng đó phải là những người ưu tú, giàu tâm huyết, vô tư, không vụ lợi và dần dần trẻ hóa. Hội cần có các định chế, các tổ chức sự nghiệp có thu, các doanh nghiệp để tạo nguồn tài lực cho bản thân hoạt động của Hội.
Hội có bổ phận vun bồi và phát triển tài năng của kế toán viên, kiểm toán viên. Lúc đó, hội thực sự là mái nhà chung, che trở nuôi dưỡng những tài năng và bênh vực cho quyền lợi hợp pháp của hội viên và các Hội thành viên.
Hội cần sớm có đủ lực lượng (cơ hữu, cộng tác viên) để nghiên cứu, biên soạn chuẩn mực, các quy phạm và giáo trình đào tạo. Hội cần tăng cường nhân lực và tiềm lực cho Ban quản lý hành nghề kế toán, kiểm toán. Hội cần có Viện nghiên cứu kế toán, kiểm toán và trường đào tạo kế toán, kiểm toán viên (ít nhất là ở bậc cao đẳng)

Những việc cần làm ngay để có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán

Như vậy, có một số nội dung công việc mà VAA phải sớm giải quyết. 
Một là, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, VAA cùng một số cơ sở đào tạo trọng điểm nghiên cứu một đề tài độc lập cấp nhà nước, sau đó triển khai xây dựng một chiến lược đào tạo kế toán viên, kiểm toán viên trình Chính phủ để thực hiện từ năm 202 trở đi;
Hai là, Bộ Tài chính sớm ban hành các quyết định để chuyển giao công tác quản lý hành nghề kế toán, kiểm toán cho Hội nghề nghiệp một cách triệt để, thay cho các Quyết định hiện hành còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ;
Ba là, VAA phải tiến hành cuộc cải tổ cơ bản để thực sự trở thành Hội mang đạm tính chất xã hội – nghề nghiệp phát huy sức mạnh của hội thành viên, hướng vào phương châm đoàn kết, hội nhập và phát triển.
Cần sớm chấm dứt cơ chế bán phần bao cấp như hiện nay chuyển hẳn tổ chức và hoạt động của có quan TW Hội, của các hội thành viên thành các tổ chức tự chủ, tự trang trải trên cơ sở đa dạng hóa việc cung cấp các dịch vụ mang tính nghề nghiệp để tạo ra nguồn lực tài chinh cho sự phát triển và lan tỏa các hoạt động của Hội.
Bốn là, khơi dậy lòng tự hào và trách nhiệm nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội của toàn Hội, của từng hội thành viên và đặc biệt là hội viên trong rèn luyện, tu nghiệp, tự quảng bá và vinh danh thương hiệu nghề nghiệp kế toán, kiểm toán.
Nếu thực thi được, chắc chắn sẽ tạo ra sự chuyển động tích cực cho Hội, cho nghề nghiệp kế toán, kiểm toán khi bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới.
Đọc thêm..
Về việc sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên nói rằng “Chính phủ trình, Quốc hội sẽ xem xét”. Trong khi đó, nhiều ý kiến cho rằng nên sớm sửa mức khởi điểm chịu thuế và giảm trừ gia cảnh ngay trong năm 2011.
Như Tuổi Trẻ đã thông tin, Chính phủ dự kiến sẽ trình Quốc hội sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN) vào năm 2012. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng ngay trong năm 2011 vẫn có thể điều chỉnh nâng mức khởi điểm chịu thuế và mức giảm trừ gia cảnh được.
Trong khi đó, thông tin từ Bộ Tài chính cho biết việc sửa đổi luật tới đây sẽ có nhiều điểm đột phá để khoan sức dân.
• Nên tiến hành sớm
Theo ông Trịnh Huy Quách – phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính ngân sách Quốc hội, với tình hình giá cả hiện nay, việc đưa Luật thuế TNCN ra sửa là cần thiết và nên được tiến hành sớm.
Theo quy trình, Chính phủ đưa một dự luật ra sửa đổi, bổ sung phải trình qua hai kỳ họp Quốc hội, kỳ thứ nhất để góp ý, kỳ thứ hai mới thông qua. Tuy nhiên, theo ông Quách, hoàn toàn có thể rút gọn được theo kiểu một luật sửa nhiều luật.
Ông Quách cho rằng mặc dù kỳ họp Quốc hội trong tháng 3 này chỉ tổng kết nhiệm kỳ và kỳ họp đầu tiên Quốc hội khóa mới dự kiến tháng 10 tới chủ yếu bàn chuyện nhân sự, bộ máy, nhưng nếu đưa ra góp ý, thông qua ngay trong kỳ họp tháng 10 vẫn hoàn toàn có thể được nếu quyết tâm.
Ngay trong Bộ Tài chính cũng có ý kiến cho rằng việc sửa luật ngay trong năm 2011 vẫn hoàn toàn có thể đáp ứng. Thậm chí trước khi luật được thông qua, có thể tăng ngay mức giảm trừ gia cảnh 50% để hỗ trợ người dân trong bối cảnh vật giá tăng cao. “Chỉ cần Quốc hội có nghị quyết, Chính phủ chỉ đạo thì có thể nâng ngay mức khởi điểm chịu thuế lên khoảng 6 triệu đồng, mức giảm trừ cho người phụ thuộc lên 2,4 triệu đồng/người, tức tăng 50%” – một quan chức Bộ Tài chính nói.
luat-thue-thu-nhap-ca-nhan-se-som-thay-doi
Với mức lương trên 4 triệu đồng/tháng, chị Nguyễn Phương, làm ở một công ty trong
Khu công nghệ cao TP.HCM, phải đóng thuế thu nhập 5%/tháng.
• Mức khởi điểm chịu thuế từ 6-10 triệu đồng/tháng
Ông Trương Chí Trung, thứ trưởng Bộ Tài chính, cho biết đến nay bộ chưa có văn bản chính thức gửi Chính phủ về những nội dung sẽ sửa. Hiện việc sửa luật được giao cho Tổng cục Thuế soạn thảo. Tuy nhiên, quan điểm sửa lần này khá táo bạo, sẽ bỏ hẳn thuế cho một số đối tượng, mức giảm trừ gia cảnh cũng sẽ “linh động” hơn…
Theo nguồn tin của Tuổi Trẻ, do VN hiện có nhiều loại lương tối thiểu khác nhau nhưng đối tượng chịu thuế chủ yếu là khu vực kinh doanh nên trong lần sửa đổi tới, mức lương tối thiểu được lấy làm cơ sở cho khởi điểm chịu thuế sẽ là lương của khu vực doanh nghiệp trong nước (tùy vùng, từ 830.000-1.350.000 đồng/tháng).
Một quan chức Bộ Tài chính cho biết chưa tính cụ thể mức khởi điểm nhưng cơ sở để các nước châu Âu tính thuế TNCN là những người dân có thu nhập khoảng 6.000 USD/năm, do vậy tại VN mức khởi điểm chịu thuế sẽ tính từ 6-8 lần mức lương tối thiểu ở khu vực doanh nghiệp trong nước, tương ứng 6-10 triệu đồng/tháng. Theo phương án này, khi điều chỉnh lương tối thiểu, mức khởi điểm chịu thuế cũng tự động lên theo.
• Giảm trừ gia cảnh 3 tháng lương
Đối với mức giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc 1,6 triệu đồng/người/tháng như hiện nay, dự kiến sẽ được kiến nghị sửa bằng khoảng ba tháng lương khu vực doanh nghiệp trong nước, tương ứng từ trên 3 triệu đồng/người/tháng. Quy định người có thu nhập 500.000 đồng/tháng sẽ không được tính là người phụ thuộc cũng sẽ được đề nghị sửa và quy định bằng một tháng lương cơ bản khu vực doanh nghiệp nhà nước (từ 830.000-1.350.000 đồng/tháng). Thậm chí, nếu người phụ thuộc là trực hệ, tức con cái, cha mẹ, ông bà, thì chỉ cần người đó không trực tiếp lao động sẽ được coi là người phụ thuộc.
Đặc biệt, một quan điểm đột phá cũng sẽ được đề xuất, đó là sẽ bỏ hẳn thuế TNCN với người đầu tư chứng khoán dài hạn. Người nào đầu tư mua cổ phiếu, sau 6 tháng bán thì nộp thuế, nếu sau 1-2 năm mới bán thì miễn thuế. Thuế TNCN từ cổ tức đầu tư vốn cũng được đề nghị bỏ.
Ngoài ra, bậc thuế cao nhất trong biểu thuế TNCN cũng có thể giảm xuống để cạnh tranh với các quốc gia trong khu vực vì hiện nay có hiện tượng một số nguồn thu nhập ở VN bị chuyển ra nước ngoài và chịu thuế ở nước ngoài. Theo ông Phùng Hoàng Cơ – phó chủ tịch HĐQT Công ty VN Report, mức đánh thuế ở bậc cao nhất trong thuế TNCN hiện nay là 35% nhưng mức này cao hơn một số nước ngay trong khu vực Đông Nam Á. Mức thuế cao nhất trong biểu thuế TNCN chỉ nên ở 30%.
So sánh số thuế thu nhập cá nhân của một người có thu nhập 10 triệu đồng/tháng, có hai người phụ thuộc, phải nộp hiện nay với phương án được điều chỉnh:


(1) Khởi điểm chịu thuế
4 triệu đồng, giảm trừ cho người phụ thuộc 1,6 triệu đồng
(2) Khởi điểm chịu thuế 8 lần lương tối thiểu (6,64 triệu đồng), giảm trừ cho người phụ thuộc 3 lần lương tối thiểu (2,49 triệu đồng)

Ðược giảm trừ
7,2 triệu đồng
11,62 triệu đồng
Thu nhập tính thuế
2,8 triệu đồng
0
Thuế TNCN phải nộp

2,8 triệu đồng x 5% (bậc 1 biểu thuế lũy tiến từng phần) = 140.000 đồng

0


♦ Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên:
Chính phủ trình, Quốc hội sẽ xem xét
Ngày 3-3, trao đổi với Tuổi Trẻ về thông tin liên quan đến dự kiến sửa đổi Luật thuế TNCN, Phó chủ tịch Quốc hội (QH) Nguyễn Đức Kiên cho biết về nguyên tắc, Chính phủ phải nghiên cứu các nội dung cụ thể và trình QH, ở đây quyền quyết định là của QH. Trả lời câu hỏi về sự cần thiết của việc sớm sửa đổi Luật thuế TNCN trong bối cảnh chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, ông Nguyễn Đức Kiên nói: “Nếu Chính phủ trình thì QH sẽ xem xét”.
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH Nguyễn Văn Thuận, việc sửa đổi Luật thuế TNCN hiện chưa có trong chương trình nghị sự của QH, đến nay ông cũng chưa nhận được thông tin chính thức nào từ phía Chính phủ liên quan đến đạo luật nêu trên. Theo tìm hiểu của chúng tôi, việc sửa đổi Luật thuế TNCN cần được thực hiện theo các quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ngoài ra QH có thể ban hành nghị quyết để quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của QH. Đơn cử như tháng 6-2009, QH có nghị quyết miễn toàn bộ số thuế TNCN từ tháng 1-2009 đến hết tháng 6-2009 đã giãn cho các đối tượng liên quan.
Từng tham gia chủ trì thẩm tra Luật thuế TNCN khi đạo luật này mới được trình QH vào năm 2006, bà Dương Thu Hương (nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế – ngân sách của QH) cho rằng với tính chất đặc thù của thuế TNCN, đạo luật này nên được xây dựng trên các nguyên tắc cơ bản, còn các vấn đề liên quan đến giảm trừ gia cảnh, biểu thuế… thì nên giao Chính phủ quy định cụ thể để có sự linh hoạt cần thiết trong từng thời kỳ. “Lúc bấy giờ tôi đã phản đối việc quy định cụ thể trong luật, ví dụ như quy định mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng, bởi nó sẽ lạc hậu rất nhanh” – bà Hương nói.

Luật thuế thu nhập cá nhân sẽ sớm thay đổi

Về việc sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên nói rằng “Chính phủ trình, Quốc hội sẽ xem xét”. Trong khi đó, nhiều ý kiến cho rằng nên sớm sửa mức khởi điểm chịu thuế và giảm trừ gia cảnh ngay trong năm 2011.
Như Tuổi Trẻ đã thông tin, Chính phủ dự kiến sẽ trình Quốc hội sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN) vào năm 2012. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng ngay trong năm 2011 vẫn có thể điều chỉnh nâng mức khởi điểm chịu thuế và mức giảm trừ gia cảnh được.
Trong khi đó, thông tin từ Bộ Tài chính cho biết việc sửa đổi luật tới đây sẽ có nhiều điểm đột phá để khoan sức dân.
• Nên tiến hành sớm
Theo ông Trịnh Huy Quách – phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính ngân sách Quốc hội, với tình hình giá cả hiện nay, việc đưa Luật thuế TNCN ra sửa là cần thiết và nên được tiến hành sớm.
Theo quy trình, Chính phủ đưa một dự luật ra sửa đổi, bổ sung phải trình qua hai kỳ họp Quốc hội, kỳ thứ nhất để góp ý, kỳ thứ hai mới thông qua. Tuy nhiên, theo ông Quách, hoàn toàn có thể rút gọn được theo kiểu một luật sửa nhiều luật.
Ông Quách cho rằng mặc dù kỳ họp Quốc hội trong tháng 3 này chỉ tổng kết nhiệm kỳ và kỳ họp đầu tiên Quốc hội khóa mới dự kiến tháng 10 tới chủ yếu bàn chuyện nhân sự, bộ máy, nhưng nếu đưa ra góp ý, thông qua ngay trong kỳ họp tháng 10 vẫn hoàn toàn có thể được nếu quyết tâm.
Ngay trong Bộ Tài chính cũng có ý kiến cho rằng việc sửa luật ngay trong năm 2011 vẫn hoàn toàn có thể đáp ứng. Thậm chí trước khi luật được thông qua, có thể tăng ngay mức giảm trừ gia cảnh 50% để hỗ trợ người dân trong bối cảnh vật giá tăng cao. “Chỉ cần Quốc hội có nghị quyết, Chính phủ chỉ đạo thì có thể nâng ngay mức khởi điểm chịu thuế lên khoảng 6 triệu đồng, mức giảm trừ cho người phụ thuộc lên 2,4 triệu đồng/người, tức tăng 50%” – một quan chức Bộ Tài chính nói.
luat-thue-thu-nhap-ca-nhan-se-som-thay-doi
Với mức lương trên 4 triệu đồng/tháng, chị Nguyễn Phương, làm ở một công ty trong
Khu công nghệ cao TP.HCM, phải đóng thuế thu nhập 5%/tháng.
• Mức khởi điểm chịu thuế từ 6-10 triệu đồng/tháng
Ông Trương Chí Trung, thứ trưởng Bộ Tài chính, cho biết đến nay bộ chưa có văn bản chính thức gửi Chính phủ về những nội dung sẽ sửa. Hiện việc sửa luật được giao cho Tổng cục Thuế soạn thảo. Tuy nhiên, quan điểm sửa lần này khá táo bạo, sẽ bỏ hẳn thuế cho một số đối tượng, mức giảm trừ gia cảnh cũng sẽ “linh động” hơn…
Theo nguồn tin của Tuổi Trẻ, do VN hiện có nhiều loại lương tối thiểu khác nhau nhưng đối tượng chịu thuế chủ yếu là khu vực kinh doanh nên trong lần sửa đổi tới, mức lương tối thiểu được lấy làm cơ sở cho khởi điểm chịu thuế sẽ là lương của khu vực doanh nghiệp trong nước (tùy vùng, từ 830.000-1.350.000 đồng/tháng).
Một quan chức Bộ Tài chính cho biết chưa tính cụ thể mức khởi điểm nhưng cơ sở để các nước châu Âu tính thuế TNCN là những người dân có thu nhập khoảng 6.000 USD/năm, do vậy tại VN mức khởi điểm chịu thuế sẽ tính từ 6-8 lần mức lương tối thiểu ở khu vực doanh nghiệp trong nước, tương ứng 6-10 triệu đồng/tháng. Theo phương án này, khi điều chỉnh lương tối thiểu, mức khởi điểm chịu thuế cũng tự động lên theo.
• Giảm trừ gia cảnh 3 tháng lương
Đối với mức giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc 1,6 triệu đồng/người/tháng như hiện nay, dự kiến sẽ được kiến nghị sửa bằng khoảng ba tháng lương khu vực doanh nghiệp trong nước, tương ứng từ trên 3 triệu đồng/người/tháng. Quy định người có thu nhập 500.000 đồng/tháng sẽ không được tính là người phụ thuộc cũng sẽ được đề nghị sửa và quy định bằng một tháng lương cơ bản khu vực doanh nghiệp nhà nước (từ 830.000-1.350.000 đồng/tháng). Thậm chí, nếu người phụ thuộc là trực hệ, tức con cái, cha mẹ, ông bà, thì chỉ cần người đó không trực tiếp lao động sẽ được coi là người phụ thuộc.
Đặc biệt, một quan điểm đột phá cũng sẽ được đề xuất, đó là sẽ bỏ hẳn thuế TNCN với người đầu tư chứng khoán dài hạn. Người nào đầu tư mua cổ phiếu, sau 6 tháng bán thì nộp thuế, nếu sau 1-2 năm mới bán thì miễn thuế. Thuế TNCN từ cổ tức đầu tư vốn cũng được đề nghị bỏ.
Ngoài ra, bậc thuế cao nhất trong biểu thuế TNCN cũng có thể giảm xuống để cạnh tranh với các quốc gia trong khu vực vì hiện nay có hiện tượng một số nguồn thu nhập ở VN bị chuyển ra nước ngoài và chịu thuế ở nước ngoài. Theo ông Phùng Hoàng Cơ – phó chủ tịch HĐQT Công ty VN Report, mức đánh thuế ở bậc cao nhất trong thuế TNCN hiện nay là 35% nhưng mức này cao hơn một số nước ngay trong khu vực Đông Nam Á. Mức thuế cao nhất trong biểu thuế TNCN chỉ nên ở 30%.
So sánh số thuế thu nhập cá nhân của một người có thu nhập 10 triệu đồng/tháng, có hai người phụ thuộc, phải nộp hiện nay với phương án được điều chỉnh:


(1) Khởi điểm chịu thuế
4 triệu đồng, giảm trừ cho người phụ thuộc 1,6 triệu đồng
(2) Khởi điểm chịu thuế 8 lần lương tối thiểu (6,64 triệu đồng), giảm trừ cho người phụ thuộc 3 lần lương tối thiểu (2,49 triệu đồng)

Ðược giảm trừ
7,2 triệu đồng
11,62 triệu đồng
Thu nhập tính thuế
2,8 triệu đồng
0
Thuế TNCN phải nộp

2,8 triệu đồng x 5% (bậc 1 biểu thuế lũy tiến từng phần) = 140.000 đồng

0


♦ Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên:
Chính phủ trình, Quốc hội sẽ xem xét
Ngày 3-3, trao đổi với Tuổi Trẻ về thông tin liên quan đến dự kiến sửa đổi Luật thuế TNCN, Phó chủ tịch Quốc hội (QH) Nguyễn Đức Kiên cho biết về nguyên tắc, Chính phủ phải nghiên cứu các nội dung cụ thể và trình QH, ở đây quyền quyết định là của QH. Trả lời câu hỏi về sự cần thiết của việc sớm sửa đổi Luật thuế TNCN trong bối cảnh chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, ông Nguyễn Đức Kiên nói: “Nếu Chính phủ trình thì QH sẽ xem xét”.
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH Nguyễn Văn Thuận, việc sửa đổi Luật thuế TNCN hiện chưa có trong chương trình nghị sự của QH, đến nay ông cũng chưa nhận được thông tin chính thức nào từ phía Chính phủ liên quan đến đạo luật nêu trên. Theo tìm hiểu của chúng tôi, việc sửa đổi Luật thuế TNCN cần được thực hiện theo các quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ngoài ra QH có thể ban hành nghị quyết để quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của QH. Đơn cử như tháng 6-2009, QH có nghị quyết miễn toàn bộ số thuế TNCN từ tháng 1-2009 đến hết tháng 6-2009 đã giãn cho các đối tượng liên quan.
Từng tham gia chủ trì thẩm tra Luật thuế TNCN khi đạo luật này mới được trình QH vào năm 2006, bà Dương Thu Hương (nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế – ngân sách của QH) cho rằng với tính chất đặc thù của thuế TNCN, đạo luật này nên được xây dựng trên các nguyên tắc cơ bản, còn các vấn đề liên quan đến giảm trừ gia cảnh, biểu thuế… thì nên giao Chính phủ quy định cụ thể để có sự linh hoạt cần thiết trong từng thời kỳ. “Lúc bấy giờ tôi đã phản đối việc quy định cụ thể trong luật, ví dụ như quy định mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng, bởi nó sẽ lạc hậu rất nhanh” – bà Hương nói.
Đọc thêm..